Khu Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Đền Hùng

KHU DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA ĐẶC BIỆT ĐỀN HÙNG

Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hùng nằm trên vùng đất Việt Trì, Phú Thọ cổ kính, linh thiêng là niềm tự hào của cả dân tộc cũng như đối với mỗi người dân Phú Thọ. Hàng năm cứ vào dịp mồng 10 tháng 3 Âm lịch, triệu triệu người con lại hướng về nơi thờ Quốc Tổ; hàng trăm ngàn người từ khắp mọi miền đất nước lại hành hương về Đền Hùng để tưởng nhớ và tri ân công lao dựng nước của Tổ tiên.

Khu di tích lịch sử Đền Hùng nằm trên địa bàn hai xã Hy Cương và Chu Hóa, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; phía Đông giáp xã Kim Đức và xã Vân Phú (thành phố Việt Trì); phía Tây giáp xã Tiên Kiên; phía Nam giáp xã Chu Hóa và thị trấn Hùng Sơn (huyện Lâm Thao); phía Bắc giáp xã Phù Ninh (huyện Phù Ninh). Nằm trong một khu vực có địa hình phần lớn là đồi núi, đây là vùng bán sơn địa chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng cho nên cảnh quan khá đa dạng: có cả rừng núi, đồi gò và đồng bằng. Không phải tới bây giờ mà ngay từ buổi đầu định đô, dựng nước, Vua Hùng đã nhìn thấy vùng đất này là một kỳ quan của tạo hóa, là nơi “Sơn chầu, Thủy tụ”, mang đậm khí thiêng của đất trời, sông núi.

Trong “Truyền thuyết Hùng Vương” có kể lại: “Ngày xưa, Vua đi mãi mọi nơi mà chưa chọn được nơi nào có thể định đô. Đi tới một vùng trước mặt ba sông tụ hội, hai bên có Tản Viên, Tam Đảo chầu về, đồi núi gần xa, khe ngòi quanh quất, thế đất bày ra như hình hổ phục rồng chầu, tướng quân bắn nỏ, ngựa chạy phượng bay. Giữa những quả đồi xanh tốt ấy có một ngọn núi đột ngột nổi lên như con voi mẹ nằm giữa đàn con. Vua lên núi nhìn ra bốn phía thấy ba bề bãi rộng bồi đắp phù sa, bốn bề cây xanh hoa tươi cỏ ngọt, vừa trùng điệp vừa quanh co, có rộng mà phẳng, có hẹp mà sâu. Vua cả mừng khen rằng đây thực là đất hợp muôn dân, đủ hiểm để giữ, có thế để mở, thế đất vững bền, có thể dựng nước được muôn đời. Vua Hùng đặt đô ở đó gọi tên là thành Phong Châu. Thành này rộng từ ngã ba sông Bạch Hạc về tới các vùng đất quanh núi Nghĩa Lĩnh...”. Đó chính là khu vực thành phố Việt Trì ngày nay.

Tổng diện tích quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích lịch sử Đền Hùng là 845 ha, bao gồm 4 điểm tham quan chính là: Đền thờ các Vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh; Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân trên núi Sim; Đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ trên núi Vặn; Bảo tàng Hùng Vương trên đồi Công Quán.

Núi Nghĩa Lĩnh còn có tên gọi là núi Hùng. Tương truyền vào thời Hùng Vương, Vua Hùng và các Lạc hầu, Lạc tướng thường tiến hành các nghi thức tín ngưỡng cầu mưa thuận, gió hòa ngay trên núi này. Đây là ngọn núi cao nhất trong vùng, có độ cao 175m so với mực nước biển, lúc đầu dân cư địa phương gọi là núi Cả. Về sau, khi các ngôi đền được xây dựng trên núi để thờ các Vua Hùng thì nhân dân gọi là núi Hùng.

Núi Hùng nhìn từ xa giống như đầu một con rồng lớn mà mình rồng uốn lượn thành núi Trọc, núi Vặn, núi Nón. Phía sau núi Hùng có những quả đồi lớn san sát nối liền dài tới 10 km giống như đàn voi chầu về Đất Tổ, phía trước là ngã ba Bạch Hạc với sự hợp lưu của ba dòng sông lớn nhất miền Bắc: sông Hồng, sông Lô, sông Đà. Từ đỉnh núi Hùng phóng tầm mắt ra xa, những dòng sông trông như những dải lụa đào bao quanh những quả đồi thấp lô nhô giống như một đàn rùa nước bò lên chầu về Nghĩa Lĩnh. Phía Đông (bên tả) là dãy Tam Đảo trùng điệp (Thanh Long), phía nam (bên hữu) là dãy Ba Vì cao ngất (Bạch Hổ). Cảnh thế ngoạn mục hùng vĩ, đầy khí thiêng của sơn thủy tụ hội. Từ trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh có thể bao quát toàn bộ một vùng rộng lớn với cảnh đẹp sơn thủy hữu tình.

Ngày nay, trên núi Hùng có các công trình thờ tự bao gồm: Cổng Đền, đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, lăng mộ Vua Hùng thứ 6, đền Giếng và một ngôi chùa tên chữ là Thiên Quang thiền tự.

CỔNG ĐỀN

Cổng đền được xây dựng năm Khải Định thứ hai (năm 1917) do gia đình bà Phạm Thị Thịnh ở Hà Nội cung tiến tu bổ tiền xây dựng.

Cổng đền được trang trí theo kiến trúc mái vòm, trên có trang trí họa tiết “lưỡng long chầu nguyệt”, gồm 2 tầng, cao 8,5m rộng 4,5m. Hai bên cổng có hai cột trụ, trên đỉnh đắp nổi 2 nghê chầu. Ở giữa cột trụ và cổng có trang trí tượng phù điêu 2 võ sĩ, một người tay cầm giáo, một người tay cầm rìu chiến.

Chính giữa cổng đền, trên cao là bức đại tự gồm 4 chữ: “Cao sơn cảnh hành” có nghĩa là “Núi cao đường lớn”. Bức đại tự một mặt hướng con cháu nhớ về công đức Tổ tiên, hướng về cội nguồn như núi cao sừng sững muôn đời, mặt khác cho ta thấy con đường rộng mở của tương lai dân tộc mà con đường ấy đã được các Vua Hùng xây đắp ngay từ thuở mới khai cơ lập nghiệp.

Hai bên cột trụ phía trong cổng là đôi hàng câu đối:

“Thác thủy khai cơ, tứ cố sơn hà quy bản tịch
Đăng cao vọng viễn, quần phong la liệt tự nhi tôn”

Nghĩa là:

 "Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông quy một mối

Lên cao nhìn rộng, trập trùng đồi núi tựa đàn con"

Hàng câu đối ở cột trụ ngoài:

"Đăng giả hệ hà tư, vạn cổ giang sơn đế tạo thủy

Giai tai do vượng khí, thiên niên thành quách úy thông gian"

Nghĩa là:

"Lên đây nhớ về cội, vạn cổ giang sơn chốn này dựng 

Đẹp thay nhờ vượng khí, nghìn năm thành quách cây cỏ tốt tươi"

ĐỀN HẠ

Theo sử sách thì Đền Hạ do dân làng Vi Cương, xã Chu Hóa, huyện Lâm Thao (cũ) xây dựng vào thời Hậu Lê (thế kỷ XVII – XVIII).

Đền Hạ có kiến trúc kiểu chữ Nhị (=), gồm hai tòa Tiền bái và Hậu cung; mỗi tòa ba gian, cách nhau 1,5m; kiến trúc đơn sơ kèo cầu suốt, đốc xây liền tường với đốc Hậu cung, hai bên đắp phù điêu, một bên voi, một bên ngựa, bộ nóc phẳng, không trang trí mỹ thuật, mái lợp ngói mũi, địa phương gọi là ngói mũi lớn. Hậu cung đền Hạ có ba gian, hai bên đầu đốc có đắp Hổ phù gắn chữ Thọ. Tường hậu giáp bệ thờ đắp hình “Long chầu nguyệt”. Hậu cung của ngôi đền là nơi đặt thờ các Long ngai bài vị thờ Thần núi, thờ các Vua Hùng và thờ hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa, con gái Hùng Vương thứ 18. Năm 2001, ngôi đền được đầu tư tôn tạo vững chãi, khang trang hơn.

Tương truyền đền Hạ là nơi mẹ Âu Cơ hạ sinh bọc trăm trứng, sau nở thành trăm người con trai. Nguồn gốc thiêng liêng của 2 tiếng “Đồng bào” cũng từ đây mà ra. “Đồng bào” có nghĩa là cùng một bọc. Chính vì thế chúng ta tự hào mình là con Rồng cháu Tiên, đều từ một bọc sinh ra, phải đoàn kết, chung sức chung lòng để chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ giang sơn gấm vóc mà Tổ tiên đã gây dựng.

CHÙA THIÊN QUANG

Di tích chùa Thiên Quang bao gồm: Chùa, Mộ tháp, Tam quan – gác chuông.

*Chùa: Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý - Trần (thế kỷ XI - XIV) với tên gọi là Viễn Sơn Cổ Tự. Thế kỷ XV, chùa được đổi tên thành Thiên Quang Thiền Tự. Tên ngôi chùa có nghĩa là ánh sáng từ trên trời chiếu rọi. Tương truyền tại nơi đây khi mẹ Âu Cơ sinh bọc trăm trứng có một luồng ánh sáng chiếu thẳng từ trên trời xuống.

Thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVI), chùa được tôn tạo lại, đến thời Tự Đức năm thứ 3 (1850), chùa được làm lại theo kiến trúc kiểu nội công, ngoại quốc. Trong kháng chiến chống Pháp chùa bị tàn phá, chỉ còn kiến trúc kiểu chữ Công. Năm 1999 – 2000 chùa được đại trùng tu giữ nguyên kiến dạng cũ. Năm 2015 chùa được tu bổ, tôn tạo, phục dựng lại bằng chất liệu bền vững, đồng thời xây dựng thêm nhà Tổ và hai dãy hành lang đặt tượng các vị La Hán. Hiện nay chùa có kiến trúc kiểu “Nội công, ngoại quốc”.

Giống với các ngôi chùa khác tại miền Bắc, chùa Thiên Quang thờ Phật theo phái Đại thừa, một thiền phái rất phổ biến tại miền Bắc. Hiện trong chùa còn lưu giữ được 32 pho tượng Phật bằng gỗ được sơn son thếp vàng rất tinh xảo, có giá trị cao về nghệ thuật tạo tác tượng tròn.

Trước cửa chùa có cây vạn tuế ba ngọn độc đáo, gần 800 năm tuổi. Ngày 19/9/1954, khi đến thăm Đền Hùng, Bác Hồ đã ngồi trước thềm chùa, dưới gốc cây vạn tuế để nghe đồng chí Thanh Quảng (Chánh văn phòng Quân ủy Trung ương) và đồng chí Song Hào (Chính ủy Đại đoàn quân Tiên Phong) báo cáo về tình hình Đại đoàn quân Tiên Phong và kế hoạch đưa bộ đội về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.

*Gác chuông (Tam quan): Đây là công trình được xây dựng vào thời Hậu Lê (thế kỷ XVII). Gác chuông gồm 3 gian, 2 tầng, 8 mái. Tầng trên ở gian giữa lắp sàn gỗ là nơi treo quả chuông có đường kính 0,8m, cao 1,5m, trọng lượng khoảng 1 tấn. Trên quả chuông có ghi nơi cúng tiến đúc chuông: “Bính Thìn niên, Đại Việt quốc, Sơn Tây đạo, Lâm Thao phủ, Sơn Vi huyện, Hy Cương xã, Cổ Tích thôn cử phụng”. Trong tam quan có đặt ba tấm bia chủ yếu ghi việc các cá nhân và địa phương công đức, xây dựng chùa.

*Giếng Cổ: Nằm ở phía sau đền Hạ. Tương truyền xưa kia mẹ Âu Cơ thường lấy nước ở giếng này để tắm cho 100 người con. Trước đây giếng đã bị vùi lấp, năm 2002 Ban quản lý Khu di tích lịch sử Đền Hùng phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành khai quật và đã phát hiện ra dấu tích giếng cổ này. Phía trong lòng giếng có chứa nhiều phế tích kiến trúc và một số mảnh gốm thuộc các thời Trần – Lê – Nguyễn. Năm 2005, giếng được phục hồi, tôn tạo lại như hiện nay.

 

ĐỀN TRUNG

Đền Trung có tên chữ là Hùng Vương Tổ Miếu (Miếu thờ Tổ Hùng Vương). Đền được xây vào thời Trần (thế kỷ XIII). Thế kỷ XV, giặc Minh xâm lược đã tàn phá đền. Sau này, đền được nhân dân phục hồi. Năm 1998, đền Trung được trùng tu vẫn giữ nguyên kiểu dáng chữ Nhất một tòa, 03 gian quay về hướng Nam. Năm 2009, đền Trung được tu bổ, tôn tạo lại, kiểu dáng chữ Nhị (=), hai tòa, gồm: Tiền bái và Hậu cung. Trong Hậu cung có đặt ngai, bài vị thờ Đột Ngột Cao Sơn, Ất Sơn, Viễn Sơn và các đời Vua Hùng để nhân dân dâng hương khói phụng thờ.

Tương truyền, khu vực Đền Trung là nơi Vua Hùng thường cùng với các Lạc hầu, Lạc tướng họp bàn việc nước và ngắm cảnh núi non kỳ thú. Đây cũng là nơi Hùng Vương thứ VI đã truyền ngôi cho hoàng tử Lang Liêu, trong cuộc thi tuyển chọn người tài kế vị. Truyện thuyết kể rằng, Vua Hùng thứ VI sau khi đánh thắng giặc Ân xâm lược, muốn tìm người tài kế vị, đã cho mời các hoàng tử lại và truyền rằng:

“Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay đem châu mỹ vị đến tế tiên vương cho ta được trọn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi”.

Các hoàng tử đều đua nhau đi tìm của ngon vật lạ khắp nơi. Duy chỉ có hoàng tử Lang Liêu, do mẹ mất sớm, không có người giúp đỡ nên không biết xoay sở ra sao. Một hôm Lang Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo:

“Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng hạt gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng trưng cho Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành”.

Khi Lang Liêu dâng lên vua cha, hai loại bánh ấy được Vua Hùng rất ưng ý nên đã quyết định truyền ngôi cho chàng, đồng thời Vua Hùng đặt tên bánh hình tròn tượng trưng cho trời là bánh giầy, bánh hình vuông tượng trưng cho đất là bánh chưng. Kể từ đó, mỗi khi Tết đến xuân về, trên mâm cỗ cúng Tổ tiên, dân gian thường làm hai thứ bánh này để tạ ơn Trời Đất.


ĐỀN THƯỢNG

Từ đền Trung đi tiếp 102 bậc đá là tới đền Thượng. Đền Thượng có tên chữ là “Kính thiên lĩnh điện”, dịch là “Điện thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh”.

Tương truyền đây là nơi Vua Hùng thường tiến hành các nghi thức cầu tế trời đất, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, nhân khang vật thịnh... Đền thờ thần của ba ngọn núi thiêng là Đột Ngột Cao Sơn, Ất Sơn và Viễn Sơn (tức là núi Hùng, núi Trọc và núi Vặn). Bên cạnh đó còn thờ Thần Lúa và đền đời Hùng Vương thứ VI, sau khi đánh tan giặc Ân, để ghi nhớ công đánh giặc cứu nước của người anh hùng, nhà vua đã cho lập miếu thờ Thánh Gióng trên đỉnh núi này. Trải qua các triều đại phong kiến, Đền Thượng luôn được quan tâm tu bổ, tôn tạo. Năm 2008 đền Thượng được Nhà nước cho tu bổ đồng bộ, vững chãi và khang trang như ngày nay.

Đền Thượng có kiến trúc theo kiểu chữ Vương, có ba cấp: phía trước là nghi môn, đại bái (cấp I), tiền tế (cấp II) và hậu cung (cấp III). Trong đó nghi môn được xây dựng theo kiến trúc thời Nguyễn gồm 4 trụ lớn tạo thành ba cổng mái vòm. Chính giữa là cổng lớn, hai cửa phụ hai bên nhỏ hơn. Ở các cột trụ phía trên đắp lồng đèn, bốn mặt đắp hình tứ linh, đỉnh cột hai bên đắp nghê chầu; hai cột giữa trên đỉnh mỗi cột là bốn con phượng cách điệu; ở giữa phía trên nóc cổng có đắp hình trang trí “Lưỡng long chầu nguyệt”, hai bên có tượng võ sĩ. Phía trước ở chính giữa của đền có bức đại tự: “Nam Việt Triệu Tổ”; hai bên cửa phụ có hai cuốn thư, của bên trái đề “Nguyệt Minh”, của bên phải đề “Nhật Ánh”.

Ngày 19/8/1962, Bác Hồ đã về thăm đền Hùng lần thứ hai và Người đã căn dặn lại các đồng chí lãnh đạo của tỉnh Phú Thọ:

“Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, cây cối để đền Hùng ngày càng trang nghiêm đẹp đẽ, thành công viên lịch sử cho con cháu sau này đến tham quan”.

Tiếp bước các thế hệ cha anh đi trước, ngày nay, Nhà nước cùng với tỉnh Phú Thọ đã và đang xây dựng nhiều công trình mới nhằm quảng bá và giáo dục truyền thống yêu nước, “ăn quả nhớ người trồng cây” cho thế hệ mai sau.

*Cột đá thề: Tương truyền cột đá thề là do Thục Phán dựng lên sau khi được Vua Hùng thứ XVIII nhường ngôi báu, để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Vua Hùng đã trao và đời đời hương khói trông nom nơi thờ tự các Vua Hùng.

LĂNG HÙNG VƯƠNG

Tương truyền đây là lăng mộ của Hùng Vương thứ VI, theo lời căn dặn của nhà vua với con cháu trước khi mất: “Khi ta chết, hãy chôn ta trên đỉnh núi Cả, để đứng trên núi cao ta còn trông nom bờ cõi cho con cháu”.

Xưa kia là một đất có mái che. Năm Tự Đức thứ 27 (1874) mộ và lăng được xây dựng lại, lăng được tôn tạo vào năm 1914 và năm 1922. Năm 2008 được trùng tu như hiện nay.

Toàn bộ lăng có kiến trúc hình vuông, có ba cửa vòm quay theo ba mặt. Phía trên các cửa vòm đều có đắp hình hổ phù cẩm thạch. Lăng có hai tầng tam mái. Các góc mái uốn cong hình đầu đao, tạo trang trí họa tiết hình rồng uốn ngược. Đỉnh lăng đắp hình “Cửu Long tranh châu”. Xung quanh lăng có tường bao, trang trí hoa văn, chất liệu bằng đá. Mộ Vua Hùng trong lăng được xây dựng hình hộp chữ nhật dài 1,3m, rộng 1,8m, cao 1,0m; có mái mui luyện. Trong lăng có bia đá ghi: “Biểu chính” (lăng chính); phía trên bề mặt đều có đề: “Hùng Vương lăng” (lăng Vua Hùng).

Cửa chính của lăng có hai câu đối chữ Nôm nói lên lòng thành kính tri ân của con cháu đối với Tổ tiên:

“Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản sông Đà non nước vẫn quay về Đất Tổ

Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc giống nòi còn biết nhớ mồ ông”

ĐỀN GIẾNG

Đền Giếng có tên chữ là “Ngọc Tỉnh”, nằm ở phía Đông Nam chân núi. Kể từ nơi đặt Lăng mộ Vua Hùng đi xuống, qua hơn 700 bậc đá là tới đền. Tương truyền nơi đây hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa là con Vua Hùng thứ 18, thường soi gương chải tóc ở Giếng Ngọc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này. Hai bà có công dạy dân trồng lúa, trị thủy nên nhân dân đã lập đền để thờ phụng muôn đời, trong hậu cung đền hiện có tượng thờ hai bà.

Đền Giếng được xây dựng theo kiến trúc kiểu chữ Công, gồm hậu cung và tiền bái kiến trúc kiểu chuôi vồ. Tiền bái có ba gian, toàn bộ khung và cánh cửa đều được làm bằng gỗ lim bền chắc, mái lợp ngói mũi. Gian đại bái có một giếng nước hình tròn, được gọi là Giếng Ngọc. Giếng sâu gần 2m, nước trong mát quanh năm. Thành giếng được làm từ một khối đá liền đục ra.

Kể từ khi được xây dựng vào thế kỷ XVIII, đến nay đền Giếng cũng đã được trùng tu, tôn tạo nhiều lần (1922, 1998). Năm 2010, đền Giếng đã được xây dựng lại khang trang và bền chắc hơn, nhưng vẫn giữ theo lối kiến trúc của đền cũ.

Ngày 19/9/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng, tại đền Giếng, Người đã gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ Đại đoàn quân Tiên Phong (Sư đoàn 308) trước khi về tiếp quản Thủ đô. Bác đã căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”

Lời căn dặn của Người và hình ảnh vị lãnh tụ giản dị ngồi quây quần cùng đoàn quân chủ lực ngay năm nào đã được khắc trên bức phù điêu đặt tại trung tâm Ngã Năm Đền Giếng, như sự nhắc nhở thế hệ hôm nay về công đức của các Vua Hùng và quá trình gian khổ, giữ độc lập dân tộc của các thế hệ cha ông, những người đã nằm xuống, đã lớn lên cùng những cuộc kháng chiến.

Bức phù điêu với hình tượng Bác Hồ ngồi nói chuyện với các chiến sĩ Đại đoàn 308 ngày 19/9/1954 là công trình được ghép từ 81 khối đá xanh, nặng 253 tấn, cao 7m, rộng 12m đặt trong một khuôn viên trên 4.000m² do Bộ Quốc phòng xây dựng vào năm 2001. Chiếm ngưỡng bức phù điêu, đọc hàng chữ nổi: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước", mỗi người dân Việt Nam hẳn không thể nào quên ý nghĩa thiêng liêng lời Bác, nhớ ơn Tổ tiên càng khắc ghi lời căn dặn của Người: dựng nước đi liền với giữ nước. Hàng năm, cứ đến kỷ niệm ngày Bác Hồ về thăm Đền Hùng và ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Phú Thọ lại thành kính dâng hoa lên Người tại Bức phù điêu. Trên cả nước có biết bao di tích, khu lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh! Nhưng có lẽ câu chuyện ở Đền Hùng và lời căn dặn của Người có ý nghĩa vượt mọi thời gian, không gian bởi đó là gạch nối gắn liền lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đồng thời khắc ghi giá trị lịch sử - văn hóa của vùng đất cội nguồn, tôn vinh lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần đại đoàn kết toàn dân, nhắc nhở các thế hệ con cháu mãi ghi nhớ về nguồn gốc "chung một tổ tiên", càng ghi nhớ càng ra sức thực hiện lời Bác "giữ nước" trên mọi phương diện.

ĐỀN THỜ QUỐC TỔ LẠC LONG QUÂN

Đền được khởi công xây dựng vào ngày 26/3/2007 và khánh thành ngày 20/3/2009 tại núi Sim, xã Chu Hóa, thành phố Việt Trì. Ngọn núi giống như một con rùa lớn, hai bên có Thanh Long và Bạch Hổ, phía trước có hồ Hóc Trai và sông Hồng chảy xuôi về biển. Ngôi đền tọa lạc trên lưng rùa biểu hiện sự linh thiêng và huyền diệu. Tổng diện tích đất xây dựng trên 13 ha gồm các hạng mục công trình: đền thờ, cổng, trụ biểu, cổng biểu tượng, phương đình, nhà tả vu, hữu vu, lầu hóa vàng, các công trình phụ trợ và hạ tầng kỹ thuật.

Đền Quốc Tổ Lạc Long Quân được xây dựng theo những nét kiến trúc truyền thống của người Việt, và cũng là sự kết hợp tinh hoa của thời đại. Từ những bậc thềm đầu tiên, chúng ta sẽ được tham quan công trình cổng tứ trụ. Cổng tứ trụ được xây dựng bằng bốn trụ biểu, chất liệu làm từ đá xanh Thanh Hóa. Hai trụ phía trong cao hơn hai trụ phía ngoài, trên đỉnh trụ là hình bốn con chim hạc đang chụm đuôi vào nhau. Trên hai trụ phía ngoài có hình chim lạc đang uốn mình như đón chào du khách khi về thăm đền Quốc Tổ Lạc Long Quân.

Qua cổng tứ trụ là cổng biểu tượng, có kiến trúc giống với mái đình của người Việt. Nếu chúng ta tìm hiểu về văn hóa Đông Sơn thì sẽ hiểu được các mô típ trang trí trên cổng biểu tượng này là hình trống đồng, hình chim lạc, hình người giã gạo,... biểu hiện cho đời sống sinh hoạt, văn hóa của người Việt Cổ.

Tiếp theo là nhà bia. Đây là công trình có kết cấu cột và khung, được làm bằng gỗ lim, lợp ngói mũi hài. Trong nhà bia có đặt tấm bia đá ca ngợi công đức của Quốc Tổ Lạc Long Quân.

Phía trong cùng là đền thờ có diện tích 210m², kiến trúc kiểu chữ đinh truyền thống, toàn bộ khung ngôi đền được làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài, nền lát gạch Bát Tràng, bó vỉa đá xanh. Hai bên đầu đốc của đền đặt hai bức tranh miêu tả cảnh 50 người con theo cha xuống biển và 50 người con theo mẹ lên non nhằm giải thích nguồn cội dân tộc, nhắc ta nhớ lại khái niệm đồng bào, những người sinh ra cùng một mẹ.

Trong hậu cung có đặt tượng Quốc Tổ Lạc Long Quân với chất liệu bằng đồng, cao 1,98m, nặng 1,5 tấn ở tư thế ngồi, tay để trên đầu gối, mắt nhìn quắc thước, đầu đội mũ lông chim, mình mặc áo lông bào, chân đeo dép xỏ ngón, một trong những trang phục rất điển hình của văn hóa Đông Sơn. Các đồ nội thất gồm bàn thờ và hoành phi, câu đối đều được làm bằng các loại gỗ tốt, có sơn son thếp vàng.

Đến Đền Hùng ngày nay, du khách không chỉ thắp hương tri ân công đức các Vua Hùng mà còn được thăm viếng đền Quốc Tổ Lạc Long Quân và đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ, sự quy tụ các giá trị văn hóa tâm linh đầy ý nghĩa thể hiện tâm thức và đạo hiếu của con dân đất Việt.

ĐỀN THỜ TỔ MẪU ÂU CƠ

Đền Tổ Mẫu Âu Cơ được xây dựng trên núi Vặn (tên chữ là núi Ốc Sơn) nằm cách núi Hùng 0,5km về phía Bắc. Núi có độ cao 171m so với mực nước biển với phong cảnh sơn thủy hữu tình, bao quanh có hồ Lạc Long Quân mở ra một không gian thơ mộng. Cùng với ngôi đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân trên núi Sim, đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ được xây dựng thể theo nguyện vọng của nhân dân, nhằm quy tụ các giá trị văn hóa tâm linh về nơi đất thiêng Đền Hùng để cha Rồng, mẹ Tiên mãi mãi là huyền thoại linh thiêng. Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ cùng đồng bào cả nước đã đóng góp công đức xây dựng ngôi đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ trên núi Vặn.

Công trình được Viện bảo tồn di tích thiết kế theo kiến trúc truyền thống, chính thức khởi công từ giữa tháng 9 năm 2001 và khánh thành vào tháng 1 năm 2005. Khu đền Tổ Mẫu Âu Cơ là một quần thể kiến trúc bao gồm: đền chính thờ mẹ Âu Cơ, nhà Tả Vu, nhà Hữu Vu, nhà bia, trụ biểu, nghi môn, cổng đền.

Cổng đền cao 5,8m được thiết kế 3 tầng mái, có đao cong, trang trí hoạ tiết hình chim Lạc. Bên trên có bức đại tự đề: “Âu Cơ Tổ Mẫu”. Tầng dưới cùng có cửa vòm hai bên để câu đối:

Phiên âm:

Mạch dẫn Lạc Hồng truyền thánh địa
Tích lưu Âu mẫu trấn danh cương.

Dịch nghĩa:

Mạch dẫn dòng giống Lạc Hồng lưu truyền khắp thánh địa
Tích xưa ghi dấu mẹ Âu Cơ ngự trấn non thiêng.

Qua cổng đền lên tới bậc đá thứ 500 là bắt đầu bước vào Nghi môn gồm 2 trụ chính cao 6,5m, hai trụ phụ cao 5,2m. Cột trụ bằng bê tông cốt thép, xung quanh đắp gờ chỉ tạo hoa văn, đắp trát các con giống thời kì Hùng Vương.

Tiến đến là 2 trụ biểu cao 14m vút thẳng giữa trời biểu thị sự giao thoa giữa thiên với trời đất được ốp bằng đá phiến xanh từ vùng Thanh Hóa, Ninh Bình, dày 20-30cm có chạm khắc các hoạ tiết, con giống phỏng theo hình chim Lạc - đây là cặp trụ biểu được đánh giá độc đáo nhất trên cả nước. Sau trụ biểu là nhà bia được dựng theo kiến trúc dân gian với mặt bằng hình vuông, mái chồng diêm, khung cột sườn mái làm bằng gỗ lim, nền lát gạch bát, xung quanh ốp đá xanh Thanh Hóa. Hai Lựu và bố trí các con lân, ly bằng đá. Bia và trụ bia được làm bằng đá, một mặt khắc chữ Nôm, mặt còn lại khắc bằng chữ Quốc ngữ, ghi lại thời kì xây dựng đền với sự đóng góp công đức của đồng bào cả nước.

Khu đền được đặt theo hướng Tây Nam. Đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ ở giữa rộng 137m2 có bố cục kiểu chữ Đinh, hai bên có tả vu và hữu vu. Toàn bộ được dựng theo kiến trúc truyền thống với cột, khung, sườn mái, vách ngăn bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài, nền lát gạch bát... các thành lan can được chạm khắc hoạ tiết hình chim Lạc, cùng các hoạ tiết văn hoá dân gian thời kì Đông Sơn. Hai bên có hai bức phù điêu khắc hoạ cảnh 50 người con theo cha xuống biển và 50 người con theo mẹ lên núi.

Hậu cung của đền có thờ tượng Mẫu và hai bà Ngọc nữ đứng hầu được đúc bằng đồng. Tượng Mẫu được dát vàng. Các nhang án, đại tự, câu đối, bệ đặt tượng đồng, giá treo chuông, treo chiêng, y môn... đều được sơn son thiếp vàng trên chất liệu gỗ quý.

Do đặc thù nằm trên núi cao với độ chênh lệch lớn, hệ thống sân vườn đã được xây dựng khá kỳ công với ba lớp kè, lớp trong cùng là tường chắn bằng bê tông cốt thép, lớp giữa xây bằng đá hộc, lớp ngoài ốp bằng gạch đá ong lấy từ làng cổ Sơn Vi, Thanh Đình (Lâm Thao, Việt Trì). Trong sân trồng nhiều giống cây đặc trưng thường thấy ở đình chùa như: Đại, si, cau, ngọc lan... mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.

Đền Mẫu Âu Cơ là một công trình thế kỷ với kiến trúc đẹp, hài hòa một cách tự nhiên giữa cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ. Từ đây mỗi khi có dịp về Đất Tổ, du khách thập phương không chỉ thể hiện tâm thư uống nước nhớ nguồn nơi Lăng, miếu các Vua Hùng, mà còn có cơ hội thể hiện tấm lòng thành kính đối với mẹ Âu Cơ, một người mẹ đã từ trong truyền sử bước ra để dạy con dân nước Việt biết quý trọng tình anh em, nghĩa đồng bào.

BẢO TÀNG HÙNG VƯƠNG

Bảo tàng Hùng Vương nằm trên đồi Công Quán, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (cũ), trong quần thể Khu Di tích lịch sử Đền Hùng. Bảo tàng được xây dựng năm 1987 khánh thành năm 1993, là nơi lưu giữ và trưng bày nhiều hiện vật quý giá thuộc giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và giai đoạn văn hoá Đông Sơn. Đó là những minh chứng khoa học góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về thời đại Hùng Vương - thời đại mở đầu dựng nước của dân tộc Việt Nam. Mỗi hiện vật khảo cổ thời Hùng Vương trưng bày tại bảo tàng đều là vật chứng thiêng liêng kết nối những huyền thoại vùng đất Tổ, lưu giữ và khắc hoạ rõ nét một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Địa danh này cũng là nơi mà mỗi người con đất Việt, dù ở trong nước hay nước ngoài, mỗi lần trở về đều cảm thấy tự hào.

Bảo tàng Hùng Vương được thiết kế dựa trên thế giới quan của người Việt cổ với quan niệm trời tròn - đất vuông, gồm 2 tầng với diện tích gần 1.000m². Từ trên cao nhìn xuống, Bảo tàng như một chiếc hộp vuông khổng lồ gợi liên tưởng đến sự tích bánh chưng, bánh giầy trong huyền sử dân tộc Việt. Bảo tàng trưng bày và giới thiệu gần 700 hiện vật gốc trên tổng số hơn 4.000 hiện vật sưu tầm. 162 bức ảnh, 4 bức tranh gốm, 5 bức tranh sơn mài, 9 bức gò đồng, 5 hộp hình, một nhóm tượng lớn và nhiều hiện vật khác tại 5 phòng chuyên đề chính, khắc hoạ và làm nổi bật chủ đề “Văn minh nông nghiệp, các Vua Hùng dựng nước Văn Lang trên vùng Đất Tổ cội nguồn”:

- Đất nước, con người thời nguyên thuỷ.

- Bắt đầu thời dựng nước.

- Sự nghiệp dựng nước Văn Lang của các Vua Hùng.

- Khu di tích lịch sử Đền Hùng và việc thờ cúng Vua Hùng trên thềm đất cổ Phong Châu.

- Tình cảm của nhân dân, sự quan tâm của các chế độ xã hội với Đền Hùng.

Trong đó, các nội dung trưng bày chính được thể hiện như sau:

Nội dung trưng bày về Đất nước, con người thời nguyên thuỷ: Giới thiệu khái quát về điều kiện tự nhiên trên vùng đất cổ Phong Châu, một vùng đất hợp lưu nơi ngã ba sông: Sông Hồng, sông Đà, sông Lô giàu đẹp và thuận lợi từ hàng vạn năm xa xưa đã trở thành môi trường tụ cư sinh sống cho các loài động, thực vật và người Việt cổ. Đó chính là thời kỳ hình thành nền văn minh Việt cổ và thời đại dựng nước của các Vua Hùng.

Nội dung về Bắt đầu thời dựng nước: trưng bày những hiện vật khảo cổ phong phú từ các nền văn hoá: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun... nhiều tài liệu khoa học mô tả từng mảng cuộc sống sinh hoạt của con người. Sự phát triển công cụ đá mài từ giản đơn đến phức tạp, từ thô ráp đến tinh xảo: Rìu có vai, rìu mài tứ diện, cuốc đá, chày nghiền, đồ trang sức (vòng tay đá, khuyên đá...) vô cùng phong phú bên cạnh sưu tập gốm đa dạng: Nồi, vò, bình gốm, bát gốm, dọi xe chỉ, chì lưới...; mũi lao, mũi tên đồng, dao găm đồng, lưỡi câu đồng, dấu tích của hạt lúa trong văn hoá khảo cổ học đã đánh dấu bước tiến dài trong lịch sử phát triển nông nghiệp trồng lúa nước, trồng lúa mới, săn bắt và hái lượm, nghề sống chính của cư dân làm nông nghiệp.

Nền kinh tế nông nghiệp ngày một phát triển. Cuộc sống con người dần no đủ, có tích luỹ của cải, có sự phân chia giàu nghèo, có sự hình thành giai cấp. Những chiếc nha chương đá tìm được ở Gia Thanh (Phù Ninh), Phùng Nguyên (Lâm Thao) là vật chứng điển hình chứng minh cho sự tập trung uy quyền vào người đứng đầu bộ tộc.

Nội dung trưng bày về Sự nghiệp dựng nước Văn Lang của các Vua Hùng: Với hàng trăm hiện vật bằng đồng được trưng bày nêu bật chủ đề sự nghiệp dựng nước Văn Lang của các Vua Hùng như lưỡi rìu đồng, lưỡi cày đồng, lưỡi thuổng, mũi lao đồng... đa dạng và phong phú. Đó cũng là căn cứ phản ánh giai đoạn văn hoá Đông Sơn phát triển rực rỡ, có sự phân bố rộng rãi từ biên giới phía Bắc tới các tỉnh miền Trung nước ta bấy giờ. Công cụ đồng ngày càng đa dạng, phong phú và điêu luyện, phản ánh cuộc diễn tiến về lao động, thời hậu kỳ đá mới qua giai đoạn sơ kỳ đồng thau đã vượt lên, mở rộng địa bàn, đẩy mạnh sự phát triển văn minh và xã hội từ bước cực thịnh trong giai đoạn văn hoá đồng thau - sắt sớm. Từ sự liên minh 15 bộ lạc gần xa để trở thành thủ lĩnh liên minh bộ lạc, rồi quân chủ quốc gia, các Vua Hùng đã dựng nước Văn Lang - Nhà nước đầu tiên của xã hội Việt Nam. Đó là thành tựu, là công lao vĩ đại của các Vua Hùng. Nền Văn hoá riêng mang sắc thái riêng và cốt cách riêng của dân tộc bắt đầu được hình thành và phát triển.

Nội dung trưng bày giới thiệu về khu di tích lịch sử Đền Hùng, việc thờ cúng vua Hùng trên thềm đất cổ Phong Châu, tình cảm của nhân dân, sự quan tâm của các chế độ xã hội tới Đền Hùng: Với bộ hiện vật tiêu biểu là bộ sưu tập ảnh lễ hội Đền Hùng trong thế kỷ XV và đặc biệt tiêu biểu hơn cả là bộ ảnh lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Đền Hùng năm 1954 với sự kiện lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Danh nhân Văn hoá Thế giới đã căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” với 61 tài liệu khoa học của các học giả, các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về Đền Hùng và thời đại Hùng Vương được trưng bày cùng với hơn 100 hiện vật do đồng bào Việt Nam khắp mọi miền thờ cúng vua Hùng đã nêu bật chủ đề: Tình cảm và trách nhiệm của nhân dân với Đền Hùng và các vua Hùng đã có công dựng nước. Ngoài ra còn nhiều hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước thăm viếng Đền Hùng xem xét quy hoạch tổng thể di tích Đền Hùng xây dựng nhà bảo tàng Hùng Vương... bên cạnh một số hình ảnh các đoàn khách quốc tế thăm Đền Hùng đều phản ánh tấm lòng của dân tộc và bè bạn với Tổ tiên dân tộc Việt Nam.

Thăm viếng Đền Hùng và tham quan Bảo tàng Hùng Vương người Việt Nam có dịp ôn lại truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, hiểu sâu sắc hơn về thời đại các Vua Hùng dựng nước và tấm lòng toàn dân tộc với Đền Hùng: Còn đối với khách Quốc tế thăm Đền Hùng và Bảo tàng Hùng Vương sẽ có dịp hiểu được ngọn nguồn dân tộc Việt Nam, văn hóa, truyền thống và đạo lý của người Việt.

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG LỄ HỘI ĐỀN HÙNG

Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng được tổ chức hằng năm từ ngày mồng 6 đến ngày mồng 10 tháng 3 Âm lịch tại Khu Di tích lịch sử Đền Hùng.

Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng đã trở thành Lễ hội mang tính văn hóa tâm linh lớn nhất ở nước ta. Hàng năm đến ngày Giỗ Tổ và tổ chức Lễ hội, con cháu trên mọi miền Tổ quốc hành hương về nơi có đền thờ các Vua Hùng với tấm lòng thành kính, tỏ lòng biết ơn công lao của các Vua Hùng và các bậc tiền nhân có công dựng nước. Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng đã trở thành động lực tinh thần của dân tộc Việt Nam.

Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng gồm hai phần: Phần Lễ và phần Hội. Phần Lễ được tiến hành với nghi thức truyền thống trang nghiêm, trọng thể tại đền Thượng; phần Hội được diễn ra với nhiều hoạt động văn hóa phong phú mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc dưới chân núi Hùng.

Trong phần Lễ: Nghi thức dâng hương hoa và lễ vật của các đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, các tỉnh thành được tổ chức long trọng trên đền Thượng. Từ chiều mồng 9, các làng rước kiệu dâng lễ bánh chưng, bánh giầy đã tập trung đông đủ dưới cổng Công Quán. Sáng sớm hôm sau, các đoàn đại biểu xếp hàng chỉnh tề đi sau cỗ kiệu rước lễ vật lần lượt đi lên đền trong tiếng nhạc của phường bát âm và đội múa sinh tiền. Tới trước cửa đền Thượng (Kính thiên lĩnh điện), đoàn đại biểu dừng lại kính cẩn dâng lễ vào Thượng cung. Đồng chí lãnh đạo Tỉnh thay mặt cho nhân dân cả nước (năm chẵn là đồng chí nguyên thủ quốc gia hoặc lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) kính cẩn đọc diễn văn Lễ Tổ.

Toàn bộ nội dung hành lễ được truyền tải trên hệ thống phát thanh, truyền hình để đồng bào cả nước theo dõi Lễ hội. Trong thời gian tiến hành nghi lễ, toàn bộ điện trường tạm ngừng các hoạt động để đảm bảo tính linh thiêng và nghiêm trang của Lễ hội.

Phần Hội: Diễn ra tưng bừng náo nhiệt xung quanh khu vực núi Hùng, các xã vùng ven và trung tâm thành phố Việt Trì. Hội Đền Hùng ngày nay có thêm nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa phong phú hấp dẫn. Trong khu vực hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hóa phẩm, các quán bán hàng dịch vụ ăn uống, các trại văn hóa của 13 huyện, thành, thị, các hoạt động biểu diễn văn nghệ, thi đấu thể thao... tạo ra nhiều màu sắc sinh động, náo nhiệt cho bức tranh ngày hội. Các hoạt động văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gian được tổ chức tại Lễ hội như đấu vật, bắn nỏ, rước kiệu, hội thi gói, nấu bánh chưng, giã bánh giầy, thi kéo lửa thổi cơm, trò diễn “Bách nghệ khôi hài” và Trò Trám của làng Tứ Xã, rước lúa thần... Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp như chèo, kịch nói, hát Quan họ, Hát Xoan, hội diễn văn nghệ quần chúng phục vụ đồng bào về dự hội. Trên khu vực Công Quán luôn âm vang tiếng trống đồng, tiếng giã gạo rộn ràng của các nghệ nhân dân gian dân tộc Mường Thanh Sơn ra phục vụ Lễ hội.

Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng đã hình thành từ rất sớm và sự tồn tại của nó luôn gắn chặt với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và đạo lý “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, các Vua Hùng cùng các vợ, con, các tướng lĩnh, các nhân vật liên quan thời kỳ Hùng Vương luôn được nhân dân ở các làng, xã trên phạm vi cả nước tôn thờ.

 

 

Loại hình

  • Du lịch văn hóa - lịch sử
  • Du lịch tâm linh

Liên hệ

  • Xã Hy Cương, Phú Thọ

Viết đánh giá

Dịch vụ

Sự hài lòng

Độ hấp dẫn

Bản đồ

Bản quyền thuộc về Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ.

dulichphutho108@gmail.com
0815.360.999
số 1168 đường Hùng Vương, phường Tiên Cát, tỉnh Phú Thọ

IZOMI